Thursday, December 18, 2014

-   Ung thư tiền liệt tuyến di căn như thế nào?

Khi chẩn đoán ban đầu bệnh này, số bệnh nhân đã bị di căn chiếm khoảng 20 - 30%, trong đó di căn vào xương chiếm 60 - 70% số người bệnh. Di căn vào xương theo thứ tự là xương chậu, đốt sống eo, xương đùi, đốt sống ngực và xương sườn. Khi di căn vào đốt sống ngực và eo, có thể gây chèn ép tủy sống. Ô di căn ở xương chủ yếu có biểu hiện thay đổi tính chất xương, nhưng cũng có thể gây loãng xương. Phân hóa ung thư càng sai khác thì di căn vào xương sẽ càng nhiều.


Các số liệu liên quan cho thấy, những người ung thư tiền liệt tuyến đã cắt bỏ bằng phẫu thuật, khi kiểm tra mô đã chứng thực bệnh biến chỉ giới hạn ở trong màng bao tiền liệt tuyến, thì chỉ có 7% bị di căn vào hạch limpha khoang xương chậu. Khi trong lâm sàng cho rằng, ung thư chỉ hạn chê" ở bên trong tiền liệt tuyến, thì thực tê" đã có 25% sô" bệnh nhân bị di căn vào hạch limpha khu khoang xương chậu; nếu ung thư đã vượt qua màng bao tiền liệt tuyến, thì sô" người bị di căn vào hạch limpha của khu khoang xương chậu sẽ lên tới 25 -75%; nếu ung thư xâm nhập vào màng gân xung quanh bàng quang thì sô" người bị di căn vào hạch litnpha của khu khoang xương chậu có thể tới 80%. Ung thư nguyên phát càng lớn thì tỉ lệ di căn vào hạch limpha khu khoang xương chậu càng cao. Di căn vào hạch limpha xuất hiện sớm nhất ở lỗ đóng và cụm hạch limpha ở bụng dưới, và xuất hiện nhiều trong và ngoài xương chậu, vùng eo, bẹn, tĩnh mạch khoang dưới,
khoang ngực, xương quai xanh trái và hạch limpha dưới nách. Nếu hạch limpha khu khoang xương chậu bị di căn thì hạch limpha ở cạnh động mạch chủ cũng có ổ di căn. Có thể thấy, phân hóa ung thư càng kém, thì tỉ lệ di căn vào hạch limpha càng cao.
Di căn vào nội tạng chủ yếu là tuyến thượng thận, gan, phổi. Trong số những người chết vì ung thư tiền liệt tuyến, có 25% trường hợp là do di căn vào phổi, nhưng về mặt lâm sàng lại thường không có chứng trạng ở phổi.

Do thời gian mang bệnh không đồng nhất, nên nếu không kịp thời chữa trị, chỉ có thể sống được 31 tháng, những người đã di căn chỉ hơn 9 tháng là chết. Trong khi đó, nếu áp dụng phẫu thuật thì có đến 50% số bệnh nhân có thể tiếp tục sống trên 5 năm; những người đã di căn có thể sống đến 5 năm chỉ chiếm 6%.


- Những nhân tố nào làm ung thư tiền liệt tuyến phát triển?

Quy luật phát triển tự nhiên của ung thư tiền liệt tuyến chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố. Bệnh nhân tuổi càng trẻ thì bệnh phát triển càng nhanh. Ung thư to hay nhỏ, thòi gian tồn tại dài ngắn, cấp độ và loại hình đều có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển nhanh hay chậm của bệnh ung thư. Trong sự tác động lẫn nhau giữa cơ quan bị ung thư và ung thư, khả năng miễn dịch của cơ quan bị ung thư có một ý nghĩa nhất định, nếu năng lực miễn dịch của cơ quan đó bị ức chế là ung thư sẽ phát triển. Khi điều trị bằng nội tiết, nếu men axit photphoric mang tính axit trong huyết thanh không giảm xuống cũng có thể dự đoán diễn biến về sau không tốt.


Có thể nói, các nhân tố nói trên đều có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của ung thư tiền liệt tuyến. Xem thêm cách điều trị và thông tin bệnh viêm tuyến tiền liệt

Sunday, December 14, 2014

- Bác sĩ, y tá nên quan tâm đến bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến như thế nào?
Bệnh nhân khi đã mắc bệnh, đặc biệt là biết mình đã bị ung thư tiền liệt tuyến thường sinh ra tâm trạng bi quan, thất vọng, ức chế tâm lý. Vì vậy, bác sĩ, y tá phải hết sức quan tâm đến bệnh nhân, để chiếm được sự tín nhiệm của bệnh nhân, khiến bệnh nhân tin tưởng tuyệt đối, y bác sĩ phải toàn tâm toàn lực tìm ra phương án chữa trị và chăm sóc tốt nhất, chỉ cần bệnh nhân tích cực phôi hợp điều trị là sẽ chiến thắng được  bệnh tật.

Y bác sĩ nên để lại ấn tượng đẹp trong lòng bệnh nhân về thái độ thân thiết, có trách nhiệm, có tay nghề. Từng cử chỉ lời nói của y bác sĩ đều có thể ảnh hưởng trực tiếp đến bệnh nhân và niềm tin cũng như lòng dũng cảm chiến đấu với bệnh tật của họ. Điều đó vô cùng quan trọng.

Phải căn cứ vào tình hình cụ thể của bệnh nhân để quyết định xem có nên nói thật tình trạng bệnh của họ hay không. Nói đến mức độ nào thì có thể có lợi cho sự điều chỉnh tính năng động chủ quan cho bệnh nhân, điều này phải xem xét đến tính cách trạng thái tâm lý, khả năng chịu đựng. Nguyên tắc chung là không được khiến bệnh nhân mất niềm tin. Với một số bệnh nhân ý chí kiên cường, có khả năng chấp nhận bệnh tật thì nói sự thật về bệnh tình sẽ rất có lợi cho việc khơi dậy tinh thần tự thân phấn đấu, tích cực chủ động phối hợp điều trị với bác sĩ, thường đạt được hiệu quả rất tốt. Nếu bệnh nhân tương đối mẫn cảm hoặc lo sợ, có thể tạm thời giấu, đợi thời cơ thích hợp sẽ tiết lộ từng ít một, dần dần cho họ biết toàn bộ bệnh tình.


Điều đáng chú ý là, bệnh nhân trước khi biết tình trạng bệnh của mình thường rất mẫn cảm, quan tâm đến những người xung quanh, hi vọng đoán được mình đã mắc bệnh hiểm nghèo gì thông qua lồi nói, hành động của họ, họ sẽ mất bình tĩnh, không thể chủ động phối hợp điều trị, do vậy kết quả điều trị sẽ không tốt, gây bất lợi cho bệnh nhân.
Bác sĩ khi trả lời các câu hỏi của bệnh nhân phải hết sức khéo léo, trong quá trình điều trị nếu bệnh biến triển theo chiều hướng tốt, phải lập tức động viên kích lệ bệnh nhân, tạo cho họ niềm hy vọng. Không được có


vẫn phát triển chậm, chỉ 2% tử vong trong vòng 5-10 năm. Do diễn biến về sau tốt nên thông thường không cần phẫu thuật. Ở giai đoạn A2 nếu không điều trị 30% ung thư lan rộng, 20% tử vong trong vòng 5-10 năm.
Giai đoạn B: nên phẫu thuật trị tận gốc, giai đoạn B1, đa số phân hóa tương đối tốt, khi phẫu thuật phát hiện 5-20% số bệnh nhân di căn hạch, tỉ lệ không mắc ung thư sau 15 năm phẫu thuật là 50-70%. Giai đoạn B2 tiến hành phẫu thuật phát hiện 50% đã xâm nhập vào túi tinh, 25-35% di căn hạch. Nếu khi phẫu thuật không di căn hạch, thì 86% bệnh biến chỉ hạn chế trong tiền liệt tuyến. Bệnh nhân không mắc lại ung thư sau 15 năm phẫu thuật là 25%.

Giai đoạn C: điều trị tương đối khó khăn, 50% số bệnh nhân di căn hạch, khu khoang xương chậu di căn rất rộng trong vòng 5 năm, 75% tử vong trong vòng 10 năm. Thông thường bệnh nhân điểu trị trong giai đoạn c bắt buộc phải phối hợp điều trị bằng phương pháp phóng xạ và nội tiết, tỉ lệ không tái phát trong 5 năm đạt khoảng 60%, trong 10 năm 20%-30%, trong 15 năm đạt 11%.
Giai đoạn D: chủ yếu điều trị bằng phương pháp phóng xạ, phương pháp hóa học và nội tiết. Tỉ lệ không tái phát trong 5 năm là 25%, trong 10 năm là 0%.
90% số bệnh nhân thất bại khi điều trị bằng phương pháp nội tiết ở bất kỳ giai đoạn nào đều tử vong sau năm. Tỉ lệ tử vong trong phẫu thuật là 1-5% (tham khảo thêm câu 217).

Friday, December 12, 2014

Trung y nhận thức như thế nào về nguyên nhân và nguy cơ mắc bệnh viêm tiền liệt tuyến cấp tính?

Trung y cho rằng nguyên nhân gây nên bệnh này chủ yếu là do uống rượu quá nhiều, ham muốn tình dục vô độ, ngoại cảm phong hàn, đáy chậu bị tổn thương, quần lót không sạch, bao quy đầu quá dài .v.v.. Những bệnh nhân bị lây nhiễm qua đường niệu đạo, đa số là do lúc đầu bị chứng lâm hoặc tử ung, thấp nhiệt theo kinh lại đi lên rồi lại trở về tinh thất gây ra. Những người bị lây nhiễm do đường máu, đa số là do lúc đầu mắc bệnh đi lỏng, chủng đậu trên da .v.v.. làm độc nhiệt tích tụ lại, làm hạ tiêu bị thấp nhiệt.


Do đó có thể thấy, các khả năng mắc bệnh này gồm:
1. Uống rượu lên men nồng độ cao lâu ngày, sinh hoạt hàng ngày không chú ý, làm tỳ vị tích tụ thấp nhiệt, rồi chuyển xuống bàng quang, ảnh hưởng đến hoạt động khí hoá, dẫn đến kinh lạc bị ách tắc, tích kết không tán, từ đó gây nên bệnh này.
2. Sau khi kết hôn quan hệ tình dục nhiều mỗi lần quan hệ hay cố giữ không phóng tinh làm tinh dịch đã ra bị chặn lại ở giữa đường, cuối cùng dẫn đến việc tinh lâu hoá nhiệt sinh thấp rồi gây nên bệnh này.
3. Thói quen thủ dâm, làm tướng hoả dồn tích khiến thấp nhiệt bị ủ ở trong tắc nghẽn khiếu huyệt, lâu ngày sẽ phát bệnh.
4. Quần lót không sạch, vùng đáy chậu bị ngoại thương, bao quy đầu quá dài làm thấp nhiệt tà độc xâm nhập vào từ bụng dưới thấm lên trên và gây ra bệnh. Nói tóm lại, bệnh này lúc đầu phần lớn do thấp nhiệt chuyển xuống dưới, thấp và nhiệt hợp với nhau, và bị tích tụ lâu ngày làm tổn thương đến máu, do đó có thể thấy từ đầu đến cuối, thấp nhiệt nội kết là nguyên nhân chính gây bệnh.



- Cơ sở bệnh lý của viêm tiền liệt tuyến cấp tính là gì?

Cơ sở bệnh lý của bệnh này là:

Viêm tiền liệt tuyến dạng chảy: Chứng viêm khuếch tán từ đường niệu đạo đến tiền liệt tuyến, biểu mô của ống bài tiết của tiền hệt tuyến bị sung huyết, phù thũng và thấm dò, qua tế bào biểu mô rụng xuống sẽ tạo thành chứng viêm dạng chảy.\Viêm tiền hệt tuyến dạng lự bào: Chứng viêm phát triển về phía khoang tuyến, tạo ra chứng viêm dạng lá nhỏ cục bộ. Lượng dịch tiết ra có mủ tăng lên, có tế bào biểu mô rụng, các tế bào bạch cầu đa hạch bị thẩm thấm, gọi là thòi kỳ tiểu bào.Viêm tiền hệt tuyến thực sự: ống bài tiết bị tắc, các chất thấm ra bị tích đọng trong khoang tuyến, đồng thòi chiếm chỗ giữa các lá nhỏ, xung quanh các mạch máu nhỏ, dịch thấm ra đã bị tích đọng tạo ra rất nhiều chỗ mưng mủ to nhỏ khác nhau, gọi là thời kỳ thực sự.

Mưng mủ tiền liệt tuyến: Chứng viêm thực sự phát triển thành chứng mưng mủ cục bộ, hoặc chứng viêm ở các vị trí khác trên cơ thể thông qua đường máu và đường bạch huyết truyền nhiễm gây ra mưng mủ ở tiền hệt tuyến.

Monday, December 8, 2014

Trong Trung y tuy không có bệnh nào có tên là viêm tiền liệt tuyến, nhưng căn cứ vào những biểu hiện do bệnh nhân tự cảm thấy trong giai đoạn cấp tính: vùng đáy chậu sa xuống, chướng căng và đau nhức, tiểu tiện không dễ dàng, sau khi áp xe có dịch mủ chảy ra từ đáy chậu, sau khi bị loét nếu gây tổn thương niệu đạo, nước tiểu có thể dò ra từ chỗ vết thương, trông tựa như bệnh huyền thông trong Trung y. Còn các biểu hiện xuất hiện trong giai đoạn mạn tính lại thuộc phạm trù "thận hư" trong Trung y.


Xét từ các kiểu chứng trạng lâm sàng do viêm tiền liệt tuyến gây ra thì dường như có liên quan đến các chứng trạng đã được sách Trung y cổ nhắc tới như: chứng lâm (cao lâm, lao lâm, khí lâm), trược (bạch trược, xích trược, tinh trược), thận hư, đau eo, liệt dương, di tinh, bạch lâm vv...
Một trong những chứng trạng điển hình của bệnh này là niệu đạo gỉ ra chất dịch màu trắng, Trung y gọi là "bạch trược" hoặc "tinh trược". Có thể thấy viêm tiền liệt tuyến thuộc loại bệnh về tinh, vị trí bệnh là ở thận, lúc đầu các chứng nhiệt nhiều hơn, lâu ngày thì các chứng hư sẽ nhiều hơn. Thời trai trẻ do tướng hoả vượng thịnh, thấp nhiệt thiên thịnh, gây rối loạn tinh thất, tinh trược bị xáo trộn, tinh ròi khỏi vị trí của nó nên gây nên bệnh nàỵ. Biểu hiện của nó phần lốn là viêm



Viêm tuyến tiền liệt cấp tính hoặc viêm tiền liệt tuyến mạn tính phát tác cấp tính. Lâu ngày thấp nhiệt gây tổn thương cho tỳ vị, tỳ khí hạ hãm nhưng không hoá được thấp, tinh thận không đủ lộ rõ là bị chứng hư, đây là quá trình cơ bản của bệnh này từ thực chuyển sang hư.


Trong lâm sàng bệnh này có số người bị thận hư nhiều hơn, bởi vì thận tăng tinh, do đó số người bị tinh trược làm tổn thương thận sẽ nhiều hơn, trong số những người bị thận hư thường gặp là thận âm bất túc. 

Thấp nhiệt chỉ là bề ngoài, thận hư là bản chất bên trong, ứ huyết là một phản ánh bệnh lý tiếp theo trong quá trình chuyển sang mạn tính, trung hư là kết quả tất yếu do thấp nhiệt tác động đến tỳ, đương nhiên cũng có khả năng liên quan đến việc cơ thể vốn bị tỳ hư hoặc do thận hư ảnh hưởng đến tỳ gây nên.

Wednesday, December 3, 2014

-  Những nhân tố nào làm ung thư tuyến tiền liệt phát triển?

<


Quy luật phát triển tự nhiên của ung thư tiền liệt tuyến chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố. Bệnh nhân tuổi càng trẻ thì bệnh phát triển càng nhanh Ung thư to hay nhỏ, thòi gian tồn tại dài ngắn, cấp độ và loại hình đều có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển nhanh hay chậm của bệnh ung thư. Trong sự tác động lẫn nhau giữa cơ quan bị ung thư và ung thư, khá năng miễn dịch của cơ quan bị ung thư có một ý nghĩa nhất định, nếu năng lực miễn dịch của cơ quan đó bị ức chế là ung thư sẽ phát triển. Khi điều trị bằng nội tiết, nếu men axit photphoric mang tính axit trong huyết thanh không giảm xuống cũng có thể dự đoán diên biến về sau không tốt.

Có thể nói, các nhân tố nói trên đều có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của ung thư tiền liệt tuyến.



- Trong lâm sàng, ung thư tiền liệt tuyến được chia ra mấy loại ?

Trong lâm sàng, ung thư tiền liệt tuyến được chia thành 3 loại:

        Loại tiềm phục, loại lâm sàng, loại ẩn.

Loại tiềm phục: ổ bệnh nguyên phát nhỏ, ung thư tăng trưởng chậm, cơ thể ở trạng thái tiềm phục lâu dài, không có triệu chứng, khó phát hiện trong lâm sàng, thường ngẫu nhiên phát hiện được khi chẩn đoán kĩ một bệnh khác hoặc khi kiểm tra tử thi.

Loại lâm sàng: Bệnh tình tiến triển nhanh, mức độ ác tính cao. Giai đoạn đầu xâm nhập vào màng bao lá hai bên, túi tinh và gắn dính các mô của những cơ quan lân cận. Giai đoạn cuối xâm nhập vào cổ bàng quang, đoạn sau niệu đạo, xuất hiện các biểu hiện tắc nghẽn đường dẫn nước tiểu như đi tiểu nhiều, tiểu tiện khó khăn, tia nước tiểu nhỏ, khoảng cách tiểu tiện ngắn, vv...

Loại ẩn: ổ bệnh nguyên phát nhỏ, rất dễ bị xem thường, nhưng đã có di căn ra xa theo đường máu và dịch limpha, đã có chứng trạng di căn trong lâm sàng. Như có bệnh nhân triệu chứng phát hiện đầu tiên là gãy xương do bệnh lý, nhưng đã có di căn đến phổi, thận, ngực, tuyến thượng thận vv., có biểu hiện ra triệu chứng ở cơ quan nội tạng tương ứng.

Nếu bạn còn thắc mắc, hãy liên hệ chúng tôi !!!



   Điện Thoại: (08) 3923 3666 - Hotline: (08) 3923 3666

Monday, December 1, 2014

Kiểm tra trực tràng bằng tay có thể phát hiện được ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn đầu hay không? có giá trị lâm sàng như thế nào?

Kiểm tra trực tràng bằng tay có ý nghĩa cực kì quan trọng trong chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn đầu, tiến hành đơn giản dễ làm, tỉ lệ dương tính cao, tỉ lệ chuẩn xác có thể đạt đến 50-70%. Nghiên cứu bệnh lý cho thấy, khi khối u chỉ giới hạn ở ngoài màng bao tiền liệt tuyến, thì tỉ lệ chuẩn xác là 25%, nếu khối u đã xâm nhập vào màng bao thì tỉ lệ chuẩn xác có thể tới hơn 70%. Vì vậy, rất nhiều học giả chủ trương, ở vùng tỉ lệ phát sinh ung thư tiền liệt tuyến cao, nam giới trung niên trở lên nên kiểm tra trực tràng định kỳ, sẽ giúp chẩn đoán sớm và có cơ hội điều trị tận gốc.

Kiểm tra trực tràng bằng tay trong việc tiến hành Hau trị liệu có thể kịp thời phát hiện vấn đề, kịp thời tiến hành xử lý, từ đó thu được hiệu quả điều trị tốt. Đây là ý nghĩa sở tại của việc kiểm tra trực tràng bằng tuy.

kiểm tra ung thư tuyến tiền liệt

Các tài liệu có liên quan cho thấy, trong số quân nhân phục vụ cho hệ thông quân sự Mỹ đều tiến hành kiểm tra trực tràng bằng tay định kỳ, có 50% bệnh nhân trong số bệnh nhân bị phát hiện có ung thư tiền liệt tuyến có thể chữa tận gốc được. Còn trong người dân bình thường, tỉ lệ bệnh nhân được phát hiện bệnh lại chỉ có 5% có thể chữa tận gốc.

Có 196 trường hợp bệnh nhân bị ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn I và giai doạn II sau khi phẫu thuật điều trị tận gốc còn sống 15 năm, trong đó một nhóm 3 trường hợp, đã là những bệnh nhân hơn 50 tuổi đều làm kiểm tra trực tràng bàng tay định kỳ, khi chẩn đoán độ tuổi bình quân là 83 tuổi, tỉ lệ còn sông 15 năm. Sau khi phẫu thuật tận gốc là 52%, vượt xa hơn nhiều tỉ lệ còn sông 15 năm. Sau phẫu thuật tận gốc của những bệnh nhân thiếu kiểm tra trực tràng định kỳ.

Sunday, November 30, 2014

Đầu tiên bạn phải biết: tăng sinh tiền liệt tuyến là gì ?

Tăng sinh tiền liệt tuyến còn gọi là phình to tuyến tiền liệt là loại bệnh mạn tính thường gặp ở nam giới cao tuổi, cũng là loại bệnh thường gặp của khoa tiết niệu như các cơ quan bộ phận khác, tiền liệt tuyến cũng trình phát dục, trưởng thành, suy thoái và lão hóa Sau khi chào đời đến thời kỳ thanh xuân, tiền Tiền liệt tuyến vốn tăng trưởng chậm; sau thòi kỳ thanh xuân tốc độ sinh trưởng nhanh, dần dần phát dục hoàn thiện đến độ tuổi 30-45, thể tích của tuyến giữ ở mức ổn định. Sau đó sẽ xuất hiện 2 xu hướng: một số người có xu hướng co nhỏ, gọn, thể tích tuyến dần dần thu nhỏ Còn một bộ phận khác lại có xu hướng tăng sinh, thể tích tuyến thể dần dần to lên, tạo ra tăng sinh tiền liệt tuyến lành tính.



Vì sao tăng sinh tuyến tiền liệt làm tiểu tiện khó khăn ?
Hoạt động cơ bản của việc thải nước tiểu bình thường là sự phối hợp giữa lực cản niệu đạo và sự co rút của cơ ép bang quang. Khi bị tăng sinh tuyến tiền liệt tuyến, những chỗ chồi về phía niệu đạo làm đoạn niệu đạo tiền liệt tuyến bị gấp khúc kéo dài, co hẹp hoặc tiền liệt tuyến sưng to ép lên cổ bàng quang, gây tắc nghẽn, từ đó làm tăng lực cản ở niệu đạo. Lúc này, cơ niệu ép bàng quang phải co thắt quá mức và phải có áp lực trong bàng quang mới có thể thải hết nước tiểu ra ngoài, từ đó làm cơ niệu ép bàng quang bị phình to, dày lên để bù đắp cho đến khi mất khả năng bù đắp. Như thế, ở bệnh nhân sẽ xuất hiện đi tiểu khó khăn ỏ các mức độ khác nhau.


Trong lâm sàng thường thấy, tuy mức tăng sinh tiền liệt tuyến có quan hệ mật thiết với mức độ đi tiểu khó khăn, nhưng không theo quan hệ tỉ lệ thuận. Đó là bởi vì:
1.    Vị trí của bộ phận tiền liệt tuyến bị tăng sinh cực kỳ quan trọng, tăng sinh ở bộ phận khác nhau sẽ có mức ảnh hưởng khác nhau đối với đường niệu. Tiền liệt tuyến bình thường được chia thành 5 lá, là lá trước, lá sau, lá giữa và lá hai bên . Có người khi tăng sinh tiền liệt tuyến cả 5 lá đều bị phình to. Có người lại chỉ có 1 hoặc 2 lá bị phình to. Trường hợp hay gặp nhất là tăng sinh lá giữa và lá hai bên; lá trước rất ít khi bị tăng sinh rõ rệt. Khi tăng sinh lá giữa tiền liệt tuyến, sẽ làm phần đáy của bàng quang nâng lên, làm cửa trong niệu đạo dịch vị trí trở thành hình tam giác, có chỗ khi tiền liệt tuyến chồi về phía khoang bàng quang, ngay ở thời kỳ đầu đã có thể gây đi tiểu khó ở mức độ nghiêm trọng. Khi tăng sinh 2 lá bên tiền liệt tuyến chỉ làm cho niệu đạo sau bị chèn ép và kéo dài, ở thời kỳ đầu triệu chứng đi tiểu khó khăn không rõ rệt. Nếu niệu đạo bị tổn thương mất khả năng phình giãn để bù đắp, sẽ xuất hiện các loại triệu chứng đi tiểu khó khăn.

2.   Khả năng bù đắp của bàng quang cũng là nhân tố không thể coi thường. Nếu chức năng của bàng quang tốt, sẽ có khả năng bù đắp nhất định, thì cho dù chỗ tiền liệt tuyến bị tăng sinh chèn ép cổ bàng quang và niệu đạo sau, vẫn có thể làm tăng năng lực thông nước tiểu, bệnh nhân có thể không có biểu hiện đi tiểu khó khăn; Nhưng nếu khả năng bù đắp của bàng quang rất kém, thì dù chỉ bị tăng sinh tiền liệt tuyến ở mức độ nhẹ, cũng xuất hiện đi tiểu khó khăn rất rõ ràng nhiễm lạnh, uống rượu, nhịn đái hay bị các nguyên nhân khác gây ra hưng phấn thần kinh giao cảm, tất nhiên sẽ làm tắc nghẽn nặng thêm. Lúc này bệnh nhân rất muốn đi tiểu nhưng lại khổ sở vì không đi tiểu được, từ đó làm cho tiền liệt tuyến vốn đã bị tăng sinh lại bị thêm sung huyết phù thũng rồi dẫn đến ứ đọng nước tiểu cấp tính.


Hiện nay, căn cứ lý luận quan trọng để giải thích hiện tượng ứ đọng nước tiểu cấp tính là: Trong cơ trơn và nang tiền liệt tuyến ở người có chứa rất nhiều thụ thể tuyến thượng thận a, còn lượng thụ thể  lại rất ít. Sau khi bị kích thích, thụ thể p sẽ làm sự co rút về trương lực của tuyến thể tăng lên, vì vậy tăng sinh tiền liệt tuyến sẽ gây tắc nghẽn cửa ra của bàng quang- Ngoài yếu tố chèn ép cơ học của các mô bị tăng sinh ra, còn có một yếu tố động lực làm tăng trương lực và tíu rút của các mô cơ bắp và tuyến nang. Nhân tố cơ học phát triển dần dần, còn nhân tố động lực thì tuỳ theo kích thích thần kinh giao cảm có hay không, mạnh hay yếu mà gây các phản ứng khác nhau, do đó trạng thúi đi tiểu của bệnh nhân có thể có lúc tốt, lúc xấu, điều đó đã được các nghiên cứu cụ thể tuyến thượng thận trong tiền liệt tuyến mấy năm gần đây chứng minh.

Làm sao có thể phòng ngừa tăng sinh viêm tuyến tiền liệt ?
Sau đây là các cách phòng ngừa phát sinh tăng sinh tiền liệt tuyến:
(1)    Nên ăn nhiều thức ăn thanh đạm dễ tiêu hóa, ăn nhiều rau, phòng bệnh táo bón, vì táo bón có thể làm bệnh bí đái nặng thêm.
(2)    Tránh ăn những thực phẩm cay nóng, không uống rượu, để giảm bớt nguy cơ sung huyết tiền liệt tuyến.
(3)    Giảm đến mức tối đa đi xe đạp, do tư thế ngồi đạp gây chèn ép tiền liệt tuyến đoạn trên của niệu đạo làm giảm khả năng thải hết nước tiểu bàng quang, rất dễ làm bệnh tình nặng thêm.
(4)    Luôn giữ tinh thần thoải mái, tránh ưu tư phiền muộn, tránh tham lam ham muốn quá mức.
(5)    Chữa trị bệnh hệ sinh dục tiết niệu, như triệt để chữa khỏi chứng viêm tiền liệt tuyến, viêm đoạn cuối niệu đạo gần tiền liệt tuyến, kịp thời giải quyết tắc nghẽn niệu đạo và có tích cực phòng ngừa phát sinh ứ đọng nước tiểu.
(6)    Tập thể dục thường xuyên, hợp lý, để tăng cường sức để kháng cho cơ thể, cải thiện tuần hoàn máu cục bộ của tiền liệt tuyến.


[ Thông tin ] Ung thư tuyến tiền liệt ?
  -  Tình trạng phát bệnh ung thư tiền liệt tuyến như thế nào?
Ung thư tiền liệt tuyến là bệnh của ngưòi già, ở Châu Âu bệnh này là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tử vong của bệnh ung thư ở nam giới. Trên thế giới, tỉ lệ phát bệnh ung thư tiền liệt tuyến không giông nhau. Theo thông kê, ở các nước Bắc Âu tỉ lệ người mắc bệnh ung thư tiền liệt tuyến đứng đầu trong số các bệnh ung thư ở nam giới. ở Mỹ, tỉ lệ phát bệnh này là 14,3%, sau đó là ung thư phổi, chiếm 10%. Khi so sánh tỉ lệ tử vong với độ tuổi cho thấy, tỉ lệ người tử vong do ung thư tiền liệt tuyến trong tầm tuổi 60 -64 đứng vị trí thứ 5 trong số các loại tử vong do ung thư, đến tầm tuổi 65-69 tỉ lệ đó đứng vị trí thứ 3; ở độ tuổi từ 70-79, đứng vị trí thứ 2. Còn ở những người trên 80 tuổi, tỉ lệ này đứng thứ nhất.

ở các vùng dân tộc khác nhau, tỉ lệ phát bệnh ung thư tiền liệt tuyến cũng khác nhau. Tỉ lệ này ở châu Âu là cao nhất, thứ hai là châu Phi và Israen, ở châu Á tỉ lệ này tương đối thấp, Trung Quốc và Nhật Bản là những nước có tỉ lệ phát bệnh thấp. Có người cho rằng, quá trình phát triển bệnh này ở người phương Đông chậm hơn so vối người phương Tây. Theo thông kê cùng một sô' tài liệu có liên quan, ở Mỹ khả năng mắc bệnh ung thư tiền liệt tuyến của một người da đen là 9,6 %, người da trắng là 5,2%; tỉ lệ chết vì bệnh này của người da đen là 3,0%, ở người da trắng là 1,4%, độ tuổi tử vong bình quân là 72-77.
Tỉ lệ phát bệnh ung thư tiền liệt tuyến ở Trung Quốc rất thấp. Theo thông kê 1972-1974 của thành phố Thượng Hải, tỉ lệ này là 0,482/10 vạn nam giới chiếm 0,28-0,32% so với các bệnh ung thư khác của nam giới, đứng thứ 35 trong các bệnh ung thư của nam giới, độ tuổi phát bệnh khoảng từ 60-80 tuổi, ít thấy xuất hiện ở những ngươi dưới 40 tuổi. Theo thông kê 1985-1987 của thành phô' Bắc Kinh, tỉ lệ tử vong và tỉ lệ phát sinh bệnh ung thư tiền liệt tuyến lần lượt là 2,41/10 vạn và 1,19%.
Những số liệu gần đây cho biết, dù ở vùng có tỉ lệ phát bệnh này cao hay thấp, tỉ lệ phát bệnh ung thư tiền liệt tuyến đã và sẽ tăng cao hơn nữa.

Bài Đăng Gần Nhất

Total Pageviews

VIDEO SƯU TẦM ĐÀN HOT

Liên kết hữu ích

Hoàn Cầu

Bài Xem Nhiều

Blog Tâm Sự Con Gái